Once Upon a Time in America - Bản Ballad buồn của thế giới gangster

Đánh giá · BaVu · · 0 · 0

Bộ phim lấy cảm hứng từ cuốn tự thuật The Hoods của Harry Gray - một cựu gangster hoàn lương.

Dịch “Nước Mỹ một thời như thế” là sát với tựa gốc Once Upon a Time in America, và nó cũng thể hiện đúng nội dung của phim hơn. Nếu so sánh, có lẽ phim này chỉ xếp sau The Godfather - Bố Già, trong số những kiệt tác đỉnh cao của thể loại phim gangster thế giới.

Đó là cả một câu chuyện dài, một biên niên sử vượt thời gian về cuộc đời của những thanh niên Do Thái, di cư và lớn lên trong thế giới tội ác ở New York - những thập niên đầu tiên của thế kỷ 20. Bộ phim xoay quanh tình bạn của 4 tên du đãng (được gọi bằng những biệt danh thay cho tên thật): Noodles, Max, Patsy và Cockeye. Mối quan hệ của họ kéo dài từ thời thơ ấu cho đến tuổi trung niên.

Đây là một phim gangster điển hình với “đủ món ăn chơi”: lừa lọc, cướp giật, đĩ điếm, buôn lậu, tham nhũng, bắt địa, đâm chém, thanh toán, trả thù, hãm hiếp, cướp bóc.. Tất cả được thể hiện rất chân thật, trần trụi, căng thẳng và… buồn! Tuy nhiên, tất cả những thứ kể trên chỉ làm nền cho chủ đề lớn nhất của bộ phim: Tình huynh đệ, nghĩa giang hồ, sự mất mát, tình yêu đam mê và sự phản bội.

Bộ phim lấy cảm hứng từ cuốn tự thuật The Hoods của Harry Gray - một cựu gangster hoàn lương. Đạo diễn người Italia Sergio Leone - ông vua của thể loại cao bồi mì ống (Spaghetti Western) lừng danh thế giới với loạt phim cao bồi Tay súng vô danh, loạt phim đưa Clint Eastwood thành siêu sao - đã say mê và muốn đưa cuốn tự thuật này lên phim còn trước cả bộ phim The Good, The Bad & the Ugly (1966) rất nổi tiếng của ông. Thậm chí năm 1972, ông đã từng từ chối làm đạo diễn The Godfather - cùng đề tài - để nhất quyết theo đuổi bộ phim này. Nhưng những rắc rối về bản quyền khiến dự án cứ phải kéo dài...

Có thể nói đây là bộ phim có quá trình chọn diễn viên công phu và mất thời gian nhất trong lịch sử điện ảnh. Sergio đã cân nhắc nhiều diễn viên cho bộ phim này trong suốt quá trình chuẩn bị dự án kéo dài gần 10 năm trời! Do hầu hết các nhân vật chính đều trải qua 3 giai đoạn, thời niên thiếu, thanh niên, và trưởng thành, Sergio muốn chọn cho bằng được các nhân vật trải qua 3 thời kỳ này phải có ngoại hình gần giống nhau hết mức có thể!

Lúc đầu, năm 1975, Gérard Depardieu, nam diễn viên Pháp quyết tâm học tiếng Anh với giọng Brooklyn để được chọn đóng vai Max, còn diễn viên Pháp kỳ cựu Jean Gabin thì đóng vai Max lúc già. Richard Dreyfuss được giao vai Noodles, còn James Cagney thủ vai Noodles về già.

Năm 1980, Sergio bàn về việc phân vai Noodles cho Tom Berenger còn Noodles khi về già thì được giao cho Paul Newman. Al Pacino và Jack Nicholson cũng được mời vai Noodles nhưng cả hai đều từ chối. Thật ra, ngay từ giữa thập niên 1970, Sergio đã chấm vai này cho Robert De Niro, nhưng số phận bộ phim quá lằng nhằng nên De Niro không thể chờ được. Mãi sau này khi chưa có ai vừa ý thì may mắn là De Niro thu xếp được thời gian để tham gia.

Trong số những diễn viên được cân nhắc cho vai Max còn có Dustin Hoffman, Jon Voight, Harvey Keitel, John Malkovich, và cả John Belushi. Tổng cộng có khoảng 200 diễn viên lớn nhỏ đã đến thử vai này, cuối cùng James Woods - một cái tên còn khá xa lạ đã được chọn!

Đầu năm 1981, cô đào với hình tượng baby Brooke Shields được mời vào vai Deborah. Sau khi xem The Blue Lagoon (Eo biển xanh), Sergio cho rằng “cô ấy có khả năng đóng một vai trưởng thành”. Nhưng một cuộc đình công của giới biên kịch Mỹ làm trì hoãn dự án này, vì thế Shields rút lui trước khi quá trình diễn thử bắt đầu. Sau đó, có đến hơn 30 minh tinh đến thử vai này, cuối cùng Elizabeth McGovern được chọn, còn Jennifer Connelly (hiện tại cô khá nổi tiếng) thủ vai Deborah lúc nhỏ.

Tính ra từ 1980 - 1982, Sergio phải phỏng vấn hơn 3.000 diễn viên với hơn 110 vai có thoại, xem tổng cộng 500 băng video casting (mỗi băng dài 2 tiếng)… vừa phải xem hàng ngàn tấm ảnh và mất hàng trăm giờ đi thị sát các bối cảnh.

Bộ phim khởi quay từ ngày 14/06/1982 đến ngày 22/04/1983. Mặc dù tạo dựng tên tuổi bằng những bộ phim về văn hóa đặc thù của Mỹ (phim cao bồi Viễn Tây), nhưng đây là lần đầu tiên, đạo diễn Sergio Leone được quay phim trên chính nước Mỹ. Việc sản xuất của bộ phim kéo dài khiến kinh phí đội lên đến 20 triệu USD - một con số quá lớn ở đầu thập niên 1980. Nhưng độ dài của phim mới là nguyên nhân chính, khiến bộ phim lâm vào cảnh ngộ bi đát.

Kịch bản gốc thật là khủng khiếp, dài 317 trang, khi quay xong bộ phim dài sơ sơ từ 8 đến 10 giờ. Sau khi đắn đo cân nhắc, Sergio Leone cắt xuống còn… 6 giờ! Ông dự định sẽ chia bộ phim thành 2 phần, mỗi phần 3 giờ. Nhưng vấp phải sức ép và sự phản ứng quyết liệt của các nhà sản xuất, Leone buộc phải cắt bớt xuống, và bản chính thức là 229 phút (3 giờ 59 phút).

Giá trị nhất và những gì hay nhất của bộ phim là những cảnh hồi tưởng, khi các nhân vật chính thời niên thiếu. Còn thủ pháp độc đáo nhất của bộ phim, là sự sắp đặt những sự kiện trong phim không theo trình tự logic thông thường (gọi là non-linear) - giờ đây là một thủ pháp dựng hết sức phổ biến trong điện ảnh hiện đại - thật trớ trêu, cả hai yếu tố quan trọng trên góp phần đẩy bộ phim vào “cửa tử”.

Khi trình chiếu tại Mỹ - thị trường chính của bộ phim, nó đã bị “xử” một cách thô bạo, bị cắt xuống chỉ còn 2 giờ 24 phút - mà lại cắt chủ yếu ở những cảnh hồi tưởng thời niên thiếu. Tệ hại hơn, nhà phát hành Ladd Company đã dựng lại bộ phim theo trình tự ABC (linear) để khán giả dễ xem, mặc cho đạo diễn Sergio Leone phản ứng quyết liệt.

Bộ phim thất bại thê thảm tại Mỹ và bị các nhà phê bình đập cho tơi tả, vì chẳng ai hiểu bộ phim muốn nói gì! Những người từng biết về phiên bản gốc của Sergio đã lên án dữ dội phiên bản “kinh khủng” này. Họ so sánh việc rút ngắn bộ phim chẳng khác nào rút ngắn các vở opera (một số vở dài hơn 5 tiếng), và cho rằng những tác phẩm nghệ thuật đã được các nhà làm phim cố ý làm cho dài, thì phải có được sự tôn trọng mà chúng xứng đáng được có.

Trong một bài bình luận vào năm 1984, nhà phê bình Roger Ebert đã nhận xét rằng, phiên bản đầy đủ của bộ phim là “Một thi phẩm thiên anh hùng ca về bạo lực và lòng tham vô đáy”, còn phiên bản chiếu rạp của Mỹ là “Một sự bôi bác bẩn thỉu!”.

Mãi sau này khi một vài nhà phê bình Mỹ từng “đập” bộ phim trước đây, có dịp được xem bản hoàn chỉnh dài 229 phút, thì tất cả mới vỡ lẽ rằng, họ đã mắc sai lầm nghiêm trọng, đồng nghĩa với việc khán giả Mỹ bỏ lỡ một dịp may, khi đối xử quá tệ với một kiệt tác điện ảnh vĩ đại như thế.

Xem ra về gu thưởng thức, người Mỹ vẫn còn kém xa châu Âu. Khi bộ phim chiếu ra mắt tại LHP Cannes 1984, toàn bộ khán giả trong rạp đã đứng dậy vỗ tay suốt 15 phút - mặc dù họ vừa trải qua buổi chiếu marathon dài 4 giờ! Sau đó nguyên bản dài 229 phút này cũng thành công rất lớn trên toàn cõi châu Âu.

Nhớ nhất khi xem Nước Mỹ một thời như thế đó là nhạc phim - do bậc thầy âm nhạc người Italia, Ennio Morricone soạn. Do thời kỳ thai nghén cực kỳ dài của bộ phim, nên Morricone đã soạn xong hầu hết nhạc phim, thậm chí trước khi nhiều cảnh được quay. Một số giai điệu đã được Sergio cho phát trên trường quay để tạo cảm hứng diễn xuất cho các diễn viên. Giai điệu của Morricone lúc thì mượt mà, lúc thì day dứt, lúc thì ám ảnh, và nó “ăn” với bộ phim đến mức, có thể sau này bạn sẽ quên bộ phim, nhưng khi nghe nhạc, những hình ảnh của bộ phim sẽ hiện ra.

Đối với người trong nghề, có thể xem bộ phim này là cuốn sách giáo khoa điện ảnh mẫu mực về nhiều mặt: Thủ pháp của đạo diễn, chọn diễn viên, thiết kế, hóa trang, diễn xuất, âm nhạc, tiết tấu, âm thanh và đặc biệt là dựng phim (tất nhiên là với bản hoàn chỉnh 229 phút). Bạn hãy thử tìm xem, để thấy đẳng cấp của bộ phim này khác xa với những phim cùng thể loại. Xem để xuýt xoa những cú cắt cảnh, chuyển cảnh tuyệt tác của Sergio Leone. Xem để thấy “con tắc kè” Robert De Niro diễn bằng mắt hay như thế nào. Thật không dễ có một bộ phim gangster mà khi xem xong, cảm giác lặng buồn cứ vương vấn trong tâm khảm.