Phim ảnh Hồng Kông - Từ huy hoàng cho đến thoái trào, vì đâu nên nỗi?

Tin tức · SarahTran · · 0 · 0

Sau thập niên 90, điện ảnh Hồng Kông bắt đầu thoái trào và giờ đây sau gần 20 năm, với sự bành trướng của các nền điện ảnh như Hollywood, Hàn Quốc và đặc biệt là Trung Quốc, Hồng Kông bị bỏ lại rất xa ở phía sau.

[
A Phi Chính Truyện thành công ở nhiều quốc gia Châu Á
A Phi Chính Truyện thành công ở nhiều quốc gia Châu Á

Điện ảnh Hoa ngữ nói chung và Hồng Kông nói riêng là nơi sản sinh ra nhiều tượng đài được người ta nhắc đến trong hàng chục năm qua như Trương Quốc Vinh, Trương Mạn Ngọc, Lương Triều Vỹ, Lưu Đức Hoa, Lưu Gia Linh, Mai Diễm Phương... Từ đầu thập niên 80 đến giữa thập niên 90 được xem là thời kì huy hoàng của điện ảnh Hồng Kông khi có sự bùng nổ cả về số lượng lẫn chất lượng nghệ thuật của các bộ phim. Không chỉ vậy, các tác phẩm điện ảnh của xứ Cảng Thơm còn đủ sức cạnh tranh với các phim Hollywood ở thị trường châu Á và bắt đầu được châu Âu biết đến nhiều hơn. Tuy vậy, sau thập niên 90, điện ảnh Hồng Kông bắt đầu thoái trào và giờ đây sau gần 20 năm, với sự bành trướng của các nền điện ảnh như Hollywood, Hàn Quốc và đặc biệt là Trung Quốc, Hồng Kông bị bỏ lại rất xa ở phía sau, thậm chí còn phải đuổi theo cái bóng của chính mình. Vì đâu mà điện ảnh Hồng Kông lại nên nỗi như vậy?

Thời kì mới chớm từ thập niên 40 đến thập niên 70

Thiệu Dật Phu - cố chủ tịch của TVB

Trong thời gian diễn ra Chiến tranh thế giới thứ 2, phim ảnh Hồng Kông bị thực dân Anh và đế quốc Nhật kiểm soát chặt chẽ khiến cho cả số lượng và chất lượng của các tác phẩm nghệ thuật đều bị hạn chế. Nhưng sau Thế chiến thứ 2, phim ảnh ở xứ cảng hồi phục nhanh chóng nhờ làn sóng di cư của các nhà sản xuất và diễn viên từ Trung Quốc Đại Lục sang. Hồng Kông giờ đây trở thành nơi hội tụ của những nhân tài trong lĩnh vực điện ảnh của Hoa ngữ và dòng vốn đầu tư của các nước phương Tây. Hai hãng phim lớn nhất thời kỳ này là Thiệu Thị - tập đoàn sáng lập ra TVB và Công ty kinh doanh điện ảnh quốc tế (MP&GI). Sau cái chết của chủ tịch MP&GI – Lục Vận Đào, Thiệu Thị bắt đầu chiếm ưu thế và chính thức “thống trị” phim ảnh châu Á khi MP&GI chấm dứt sản xuất phim từ năm 1970.

Những thể loại được ưa chuộng và sản xuất nhiều nhất trong giai đoạn này chính là phim ca nhạc, với hai tác phẩm nổi bật là Hoàng Mai Điều và Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài; phim tình cảm, đặc biệt là các phim được chuyển thể từ tiểu thuyết của nữ văn sĩ Quỳnh Dao. Nhưng bước đột phát lớn nhất phải kể đến trong giai đoạn này là sự hoàn thiện về mặt nghệ thuật của thể loại võ thuật, gắn liền với tên tuổi của đạo diễn Hồ Kim Thuyên (Đại Túy Hiệp, Khách Sạn Long Môn) và Trương Triệt (Độc Tý Đao).

Ngoài ra, thập niên 70 còn chứng kiến sự ra đời của một thể loại phim mới: phim cấp 3 – thể loại pha trộn giữa phim khiêu dâm và các phim điện ảnh thực sự. Cùng với sự hình thành của thế hệ đạo diễn của Làn sóng mới Hồng Kông như Từ Khắc, Hứa An Hoa, Đàm Gia Minh, Phương Dục Bình, Nghiêm Hạo, Chương Quốc Minh… Đây đều là những tên tuổi trở thành trụ cột cho nền công nghiệp phim ảnh Hồng Kông những thập niên về sau.

Thập niên 80 đến giữa thập niên 90: Thời kỳ bùng nổ và đạt đến đỉnh cao

Thập niên 80 đến giữa thập niên 90 là giai đoạn phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng của phim ảnh Hồng Kông, thậm chí một năm có thể sản xuất tới 200-300 phim. Không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước, Hồng Kông còn có sức ảnh hưởng đến khắp châu Á, đủ sức cạnh tranh với phim của Hollywood. Thậm chí, tờ Variety còn có lần ca ngợi Hồng Kông là Hollywood của phương Đông.

Nhắc đến sự hưng thịnh của phim ảnh Hồng Kông thì phải nhắc đến Đài phát thanh, truyền hình Hồng Kông TVB do Thiệu Dật Phu sáng lập vào năm 1967. Với vai trò chủ tịch TVB, Thiệu Dật Phu đã đưa lịch sử phim ảnh Hồng Kông sang chương mới và gầy dựng nên cả một đế chế điện ảnh, truyền hình ở châu Á.

Thập niên 80 là thời kỳ cho ra đời những bộ phim truyền hình gắn liền với tuổi thơ của nhiều người thế hệ 8X và 9X. Hầu như mỗi năm trong thập niên 80 TVB đều cho ra đời một tác phẩm kinh điển gây tiếng vang lớn như Bến Thượng Hải (1980), Phượng Hoàng Lửa (1981), Tô Khất Nhi (1982), Lộc Đỉnh Ký (1984)… Đến thập niên 90, TVB bắt đầu mở rộng sang các đề tài hình sự, tâm lý gia đình và tập trung thế mạnh cho dòng phim kiếm hiệp. Những phim truyền hình được sản xuất trong giai đoạn này đều đã đi vào hàng huyền thoại như Nguyên Chấn Hiệp, Đại Thời Đại, Hồ Sơ Trinh Sát, Anh Hùng Xạ Điêu, Thiên Long Bát Bộ, Thần Điêu Đại Hiệp…

Thần Điêu Đại Hiệp 1995

Với sự “xâm lăng” của thể loại phim truyền hình trong lĩnh vực giải trí, các đạo diễn phim điện ảnh bắt đầu “đứng lên” và chấn hưng thời kỳ vàng son của điện ảnh Hồng Kông, đồng thời khẳng định vị trí của điện ảnh Hồng Kông trên trường quốc tế. Những bộ phim của họ như những lời đáp trả mạnh mẽ chống lại các phim kiếm hiệp võ thuật đầy màu sắc với những cảnh quay ngột ngạt trong các phim trường kín của thế hệ đi trước. Họ sử dụng tiếng Quảng Đông làm ngôn ngữ cho phim, thay vì sử dụng tiếng Phổ thông như các phim trước đó. Chất liệu hình ảnh và âm thanh cũng tạo cảm giác chân thật và đầy ám ảnh, kỹ thuật làm phim mới cũng được sử dụng với những góc quay sáng tạo. Đặc biệt là, cho dù trong bất cứ thể loại hay đề tài nào, thì nội dung phim cũng chỉ là cái nền để những đạo diễn này tỉ mỉ khắc họa và tô vẽ diện mạo cho nhân vật chính trở thành đại diện cho lớp trẻ bản địa Hồng Kông – những người ngày càng gắn bó và tiếp thu sự phát triển của đất nước bảo hộ Anh quốc, nhưng đồng thời cũng tự hào và lưu giữ những nét văn hóa đặc trưng mà chỉ có thể tìm thấy ở Hồng Kông.

Những tên tuổi đạo diễn tài năng góp phần làm nên sự huy hoàng của thời kỳ này phải kể đến là Từ Khắc với thể loại võ thuật, hành động gai góc, cổ quái, có sự ngầm chống đối chính trị (Điệp Biến, Nguy Hiểm Dạng Thứ Nhất, Anh Hùng Bản Sắc, Thiện Nữ U Hồn, Tiếu Ngạo Giang Hồ…); Hứa An Hoa với những tác phẩm nói về sự thăng trầm của kiếp người, giá trị tinh thần của tầng lớp người thành thị (Phong Kiếp, Thuyền Nhân, Câu Chuyện Hồ Việt); Ngô Vũ Sâm với những phim nói về xã hội đen kinh điển (Anh Hùng Bản Sắc, Lạt Thủ Thần Thám, Điệp Huyết Song Hùng…); Vương Gia Vệ với phong cách duy mỹ cầu kỳ đậm chất châu Âu (Vượng Giác Tạp Môn, A Phi Chính Truyện, Đông Tà Tây Độc, Trùng Khánh Sâm Lâm, Tâm Trạng Khi Yêu…); Quan Cẩm Bằng đại diện cho dòng phim melodrama nghệ thuật (Yên Chi Khấu, Nguyễn Linh Ngọc, Hoa Hồng Đỏ Hoa Hồng Trắng) hay Trần Quả với phong cách tươi trẻ riêng biệt (Hương Cảng Chế Tạo, Tiểu Trương).

Tâm Trạng Khi Yêu - Bộ phim đạt đến đỉnh cao về sự duy mỹ của đạo diễn Vương Gia Vệ và được cả giới phương Tây khen ngợi hết lời

Ngoài những đạo diễn tài năng và các tác phẩm để lại dấu ấn sâu đậm, thời kỳ này còn là cái nôi sản sinh ra nhiều diễn viên mà cho đến tận bây giờ, mỗi khi nhắc đến đều khiến người hâm mộ phải xao xuyến. Đó là Ca Ca Trương Quốc Vinh với đôi mắt đầy tình cảm và u uất, là Mai Diễm Phương một đời tài hoa, một đời bạc mệnh, là “anh cả” Châu Nhuận Phát với gương mặt và dáng vẻ phong lưu, là nàng thơ phương Đông Trương Mạn Ngọc với sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, là Tứ Đại Thiên Vương và Ngũ Hổ Tướng từng một thời làm mưa làm gió trên cả màn ảnh nhỏ và màn ảnh rộng.

Trương Quốc Vinh và Mai Diễm Phương

Thế nhưng, một Hồng Kông như thế này chỉ còn là chuyện của quá khứ. Hồng Kông bây giờ, mỗi khi nhắc đến chỉ khiến cho người ta tiếc nuối vì đã để mất những nét đặc trưng và duy mỹ như lúc trước.

Cuối thập niên 90 cho đến nay: Thời kỳ thoái trào

Series Đường Tâm Phong Bạo thành công 2 phần đầu nhưng tỏ ra đuối sức ở phần 3

1997 là năm đen tối đối với nền công nghiệp phim ảnh lẫn nền kinh tế chung của Hồng Kông. Sau khi được nước Anh trao trả lại cho Trung Quốc Đại Lục, Hồng Kông chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á, nhiều nhà sản xuất phim dần thoái vốn sản xuất. Bên cạnh đó, việc sản xuất ồ ạt trong những thập niên trước khiến cho chất lượng nghệ thuật lẫn lòng tin của khán giả bị giảm sút, lượng khán giả kéo đến rạp ngày càng ít. Không chỉ dừng lại ở đó, năm 2003, đại dịch SARS bùng nổ ngay trên đất cảng khiến cho hàng loạt rạp chiếu phim phải đóng cửa, các nhà sản xuất cũng dần rút lui.

Hồng Kông lúc bấy giờ như con thuyền trôi lênh đênh giữa biển không biết phương hướng. Rồi với sự bành trướng của Hollywood trên khắp toàn cầu, làn sóng Hallyu từ Hàn Quốc lan sang, sự phát triển của phim Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản, khiến cho nền phim ảnh Hồng Kông như con thuyền trôi lênh đênh giữa biển mà còn gặp phải bão. Từ một khu vực sản xuất từ hơn 200-300 phim/năm, những năm gần đây Hồng Kông chỉ khiêm tốn cho ra khoảng 50-60 phim/năm, mà đa phần trong số đó phải hợp tác với Trung Quốc để còn có thị trường mà bấu víu. Nếu không nhờ hợp tác với Trung Quốc thì chắc hẳn phim ảnh Hồng Kông đã sụp đổ từ rất lâu.

Việc hợp tác với Trung Quốc giống như con dao hai lưỡi đối với Hồng Kông. Trung Quốc giúp cho phim ảnh Hồng Kông trụ được tới ngày hôm nay, nhưng đồng thời cũng kiểm soát nội dung, kịch bản một cách gay gắt. Sự thao túng của Bắc Kinh đã khiến cho phim của Hồng Kông ngày càng mất chất, không để lại ấn tượng sâu sắc như lúc trước, thậm chí ngay cả khán giả bản địa của Hồng Kông còn quay lưng với những phim này, đặc biệt là trong thời kì phim Hollywood phát triển không ngừng nghỉ, không bị kiểm duyệt gắt gao về mặt nội dung hay thông điệp.

Không chỉ có sự thoái trào của phim điện ảnh, mà phim truyền hình TVB cũng ngày càng xuống dốc. Sau khi chủ tịch Thiệu Dật Phu qua đời vào năm 2014, TVB được ông Lương Nãi Bằng lãnh đạo. Tuy nhiên, dưới thời của Lương Nãi Bằng, TVB hiếm có được bộ phim nào gây tiếng vang ngoài Sứ Đồ Hành GiảBao La Vùng Trời 2. Thậm chí thương hiệu đã từng một thời gây nghiện như Sóng Gió Gia Tộc (Đường Tâm Phong Bạo) cũng dần mất chất, phần mới nhất được tung ra cũng bị khán giả chê tơi tả và quay lưng.

Sứ Đồ Hành Giả 2 chưa làm thỏa lòng các fan của phần 1, nhưng vẫn gặt hái thành tích đáng kể

Lớp đạo diễn và biên kịch hiện nay của TVB cũng không còn tâm huyết như trước. Kịch bản phim hời hợt, không còn thu hút được khán giả như xưa. Đạo diễn ngoài việc đứng trước ống kính, đếm lùi để diễn rồi bấm máy thì không còn làm gì khác. Trang thiết bị vật chất, phim trường, chế độ đãi ngộ cũng giảm sút trầm trọng. Chính những điều này mà các tên tuổi từng một thời vang bóng và góp phần làm cho TVB hưng thịnh đều dứt áo ra đi, trong đó có Hồ Hạnh Nhi, Lâm Phong… Sau thế hệ của các diễn viên này, TVB cũng không đào tạo ra được ngôi sao nào có sức ảnh hưởng đáng kể đến như vậy.

Việc nền công nghiệp phim ảnh Hồng Kông ngày càng rơi xuống đáy vực thẳm sâu là chuyện liên quan đến nhiều vấn đề sâu xa khác mà không thể nào giải quyết hay cứu vớt trong một sớm một chiều được. Giờ đây, khi nhắc đến Hồng Kông, người ta chỉ còn thấy tiếc nuối cho thời kỳ huy hoàng mà không thể nào lấy lại được nữa.